15. Điệp Chồng Cúng Cho Vợ II
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
嗚呼、慚爲夫子、哀慕賢妻、糟糠不忍於下堂、蘋藻須憑於內助、相親相愛、偶諧作合之緣、且樂且忱、持遂睦隣之義、每謂同心明結、永諧兩姓之歡、豈期半枕夢殘、忽負百年之約、嘆以何期而復覩、嗟呼幾刼以相親、義奚足答、情愈堪悲。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。
惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中鑒知收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Ô hô ! Tàm vi phu tử, ai mộ hiền thê; tào khang1 bất nhẫn ư hạ đường, tần tảo2 tu bằng ư nội trợ; tương thân tương ái, ngẫu hài tác hợp chi duyên; thả lạc thả thầm, trì toại mục lân3 chi nghĩa; mỗi vị đồng tâm minh kết, vĩnh hài lưỡng tính chi hoan; khởi kỳ bán chẩm mộng tàn, hốt phụ bách niên chi ước; thán dĩ hà kỳ nhi phục đổ, ta hô kỉ kiếp dĩ tương thân; nghĩa hề túc đáp, tình dũ kham bi. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.
Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Thẹn làm phu tử, thương nhớ hiền thê; gối chăn đâu nhẫn xuống dưới nhà, tảo tần nương vào nơi nội trợ; tương thân tương ái, sánh đôi tác hợp nhân duyên; lại vui lại mừng, giữ trọn thuận hòa đạo nghĩa; mỗi độ đồng tâm nối kết, mãi cùng hai họ hân hoan; ai mong nửa gối mộng tàn, chơt phụ trăm năm hẹn ước; than thở lúc nào được gặp lại, than ôi mấy kiếp mới gần nhau; nghĩa sao đáp đủ, tình mãi buồn đau. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.
Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Tào khang (糟糠): bã rượu và cám gạo. Đây là hai loại thức ăn rất nghèo nàn, thô mạt dùng cho heo ăn; nhưng đối với nhà bần hàn, cùng cực thì cũng dùng hai loại thức ăn nầy để sống, vậy mà vẫn không ăn đủ no; cho nên có câu “tào khang bất bão (糟糠不飽, bã rượu và cám gạo nghèo hèn mà vẫn không ăn no đủ).” Ngạn ngữ của Trung Quốc vẫn thường có câu “tào khang chi thê bất hạ đường (糟糠之妻不下堂)”, nghĩa là đối với người vợ đã cùng với mình trãi qua thời gian sống cơ hàn, ăn thức ăn thô hèn như bã rượu và cám gạo, thì lúc khá giả, sung túc không nên bạc đãi cho xuống nhà dưới ở, mà phải biết quý trọng hơn nữa. Câu nầy phát xuất từ trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 26, Truyện Tống Hoằng (宋弘傳): “Thần văn bần tiện chi tri bất khả vong, tào khang chi thê bất hạ đường (臣聞貧賤之知不可忘、糟糠之妻不下堂, thần nghe rằng quen biết lúc nghèo cùng thì không thể quên, người vợ cùng chung cực khổ thì không thể bạc đãi cho xuống nhà dưới).” Như trong Chánh Hành Tập (正行集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1254) có câu: “Trân san ngọc thực giả, tu tri hữu tào khang chi soạn (珍飧玉食者、須知有糟糠之饌, người ăn món ngon vật quý, nên biết có món ăn nghèo mạt).”
- Tần tảo (蘋藻): loại cỏ Tần (thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [田], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Tảo (rong biển, tên gọi chung các thứ cỏ mọc dưới nước); đều là tên loại cỏ nước. Người xưa thường hái loại cỏ nầy để làm vật cúng tế, từ đó nó có nghĩa là vật phẩm cúng tế hay sự cúng tế. Như trong thiên Chiêu Nam (召南), Thái Tần (采蘋) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Ư dĩ thái tần, nam giản chi tân, ư dĩ thái tảo, ư bỉ hàng lạo (於以采蘋、南澗之濱、於以採藻、於彼行潦, sao hái cỏ tần, tận chốn khe nam; sao hái rong biển, nơi vũng nước đọng kia).” Hay trong bài thơ Tương Trung (湘中) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có đoạn: “Tần tảo mãn bàn vô xứ điện, không văn ngư phụ khấu huyền ca (蘋藻滿槃無處奠、空聞漁父扣舷歌, tần tảo đầy mâm đâu chẳng cúng, không nghe chài lão vỗ thuyền ca).” Về sau, từ tần tảo nầy được dùng để chỉ đức tánh cao đẹp của người phụ nữ. Như trong bài thơ ru con của Việt Nam có câu: “Một đời tần tảo sớm hôm, nên bơ gạo trắng nên lòng thẳng ngay, bà ru dạy mẹ tháng ngày, đến nay mẹ lại nhớ lời ru con.” Hay như câu ca dao: “Cô hai buôn tảo bán tần, cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa, cô tư dọn dẹp trong nhà, cô năm sắc thuốc mẹ già dưỡng nuôi.” Người Trung Quốc vẫn thường dùng câu “Tần Tảo Quyền Dư (蘋藻權輿, tần tảo ngay từ ban đầu)” để chúc tụng vào dịp lễ cưới xuất giá của người con gái. Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Thánh Tiết Chúc Hi (聖節祝釐), có câu: “Vân xu thánh điện, lôi tụng bí chương, liêu triển tần tảo chi thành, ngưỡng thù cao hậu chi ấm (雲趨聖殿、雷誦秘章、聊展蘋藻之誠、仰酬高厚之廕, mây qua thánh điện, sấm tụng kinh văn, bày trọn tần tảo lòng thành, ngưỡng đáp chở che cao cả).”
- Mục lân (睦鄰、睦隣): đối xử hòa thuận với quốc gia hay nhà bên cạnh. Như trong bức Vị Trinh Dương Hầu Trọng Dữ Vương Thái Úy Thư (爲貞陽侯重與王太尉書) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều có đoạn: “Đản đại Tề nhân tín chi đạo, quan vu chí thành mục lân chi hoài, do vu hiếu đức (但大齊仁信之道、關于至誠睦鄰之懷、由于孝德, như đạo nhân từ và niềm tin của nhà đại Tề, liên quan đến lòng chí thành hòa thuận, đều do ở đức hiếu).”